Nghi lễ là một hình thức thực hành được quy định trong đời sống tôn giáo. Chúa Jêsus ban các nghi lễ cho Hội Thánh để giúp người tin hành động theo đức tin, chứ không chỉ thực hiện những nghi thức hay tuân theo luật lệ. Mỗi nghi lễ gắn liền với một sự minh chứng thuộc thể và một ân điển thuộc linh.
Trong bữa ăn cuối cùng trước khi chịu đóng đinh, Chúa Jêsus đã ban cho các môn đồ một nghi lễ để ghi nhớ (Ma-thi-ơ 26:26–29). Những yếu tố thuộc thể được Ngài sử dụng hướng người dự lễ đến ý nghĩa thuộc linh của sự tha thứ qua thập tự giá. Mối liên hệ giữa hành động hữu hình và đức tin bên trong cũng được thể hiện qua các nghi lễ Hội Thánh.
Chúa Jêsus truyền dạy phải làm lễ báp-têm cho những người tin Ngài (Ma-thi-ơ 28:18–19; Mác 16:15–16). Các sứ đồ tiếp tục truyền dạy điều ấy (Công-vụ 2:38). Báp-têm dành cho người đã tin Chúa; đức tin phải có trước khi một người chịu báp-têm (Công-vụ 8:5, 12, 35–38). Nghi lễ này là sự minh chứng bên ngoài cho đức tin bên trong.
Trong phép báp-têm, tín hữu được liên hiệp với Đấng Christ và công bố những điều Ngài đã làm cho mình qua sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài (Rô-ma 6:3–6). Người chịu báp-têm tuyên bố rằng mình chết đối với tội lỗi, được chôn như Đấng Christ và được sống lại trong quyền năng Thánh Linh. Đó cũng là lời công bố rằng đời sống cũ tội lỗi đã chết, và người ấy có một đời sống mới trong Đấng Christ.
Báp-têm bằng nước được thực hiện bằng cách dầm mình xuống nước. Từ Hy Lạp được sử dụng trong Tân Ước mang nghĩa nhúng xuống hoặc ngâm xuống nước. Vì báp-têm tượng trưng cho sự chôn, cách thực hành được trình bày là trầm mình hoàn toàn trong nước, thay vì tưới nước. Hình ảnh này tương ứng với việc một người chết được chôn hoàn toàn bên dưới đất.
Vì báp-têm công bố đức tin cá nhân nơi Đấng Christ, nghi lễ này không được cử hành cho con trẻ. Mỗi người cần có một quyết định có ý thức để theo Đấng Christ trước khi chịu báp-têm. Một đứa trẻ phải đủ lớn để hiểu quyết định ấy và thực hiện điều mình đã lựa chọn.
Bên cạnh báp-têm bằng nước, sự xức dầu được nhắc đến trong việc cầu nguyện cho người bệnh. Các môn đồ Chúa Jêsus đã xức dầu cho người bệnh để họ được chữa lành (Mác 6:12–13). Các trưởng lão trong Hội Thánh cũng được dạy phải xức dầu cho người bệnh (Gia-cơ 5:14–15).
Lời dạy này nhấn mạnh rằng quyền năng của đức tin mang sự chữa lành, không phải bản thân dầu. Dầu là biểu tượng cho công việc của Đức Thánh Linh trong sự chữa lành, đồng thời biểu thị sự cống hiến và dâng hiến cho Đức Chúa Trời.
Trong Tiệc Thánh, người tin công bố điều Chúa đã làm cho mình qua sự chết của Ngài. Việc dự phần là một cách bày tỏ ra bên ngoài đức tin bên trong (I Cô-rinh-tô 11:23–30). Rượu hoặc nước nho tượng trưng cho huyết Đấng Christ đã đổ ra để làm sạch chúng ta khỏi tội lỗi và đem lại sự cứu chuộc cho linh hồn.
Bánh tượng trưng cho thân thể Ngài đã vỡ ra để đem lại sự chữa lành cho chúng ta (I Phi-e-rơ 2:24; Ê-sai 53:5). Người dự Tiệc Thánh cần dự phần cách xứng đáng, nhận thức rõ thân thể của Ngài và ý nghĩa của những lằn roi Ngài đã chịu để chúng ta được chữa lành.
Tiệc Thánh cũng làm hiệp một Hội Thánh là Thân Thể Đấng Christ. Bánh tượng trưng cho một thân thể của Ngài. Dù những người tin thuộc nhiều dân tộc, nền văn hóa, nếp sống, ngôn ngữ và bộ tộc khác nhau, Thân Thể Đấng Christ vẫn là một (I Cô-rinh-tô 11:26).
Tần suất dự Tiệc Thánh có thể được lựa chọn, miễn là người dự lễ ghi nhớ và tôn kính Đấng Christ mỗi khi dự phần (I Cô-rinh-tô 10:16–17).
Sự đặt tay được gọi là một tín lý nền tảng của Đấng Christ (Hê-bơ-rơ 6:1–2). Năm mục đích được nêu cho nghi lễ này bao gồm chữa lành, nhận lãnh Đức Thánh Linh, biệt riêng cho chức vụ hoặc nhiệm vụ đặc biệt, phong chức mục sư và chuyển giao phước lành.
Sự đặt tay được thực hiện trong việc chữa lành (Lu-ca 4:40; Mác 16:17–18) và trong việc nhận lãnh Đức Thánh Linh (Công-vụ 8:14–17; 19:1–2, 6). Nghi lễ này cũng được dùng để giao một chức vụ, biệt riêng một người cho nhiệm vụ đặc biệt (Công-vụ 6:2–6).
Trong việc phong chức mục sư, sự đặt tay có ý nghĩa đối với đời sống chức vụ (I Ti-mô-thê 4:14). Những ân tứ của Đức Thánh Linh có thể được chuyển giao qua sự đặt tay để thi hành chức vụ, tùy theo ý muốn của chính Đức Thánh Linh.
Việc đặt tay phong chức xác nhận sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên một người, không tạo ra một sự kêu gọi mới. Nếu người ấy không nhận biết và minh chứng sự kêu gọi đối với đời sống chức vụ của mình, thì việc đặt tay và phong chức cũng vô ích.
Sự đặt tay còn được dùng để chuyển giao phước lành (Mác 10:13–16). Dù không làm báp-têm cho trẻ em, chúng ta vẫn dâng các em cho Đức Chúa Trời và đặt tay để chúc phước cho các em.
An ordinance is a prescribed practice in religious life. Jesus gave ordinances to the Church to help believers put their faith into action, rather than merely perform rituals or observe rules. Each ordinance is connected with an outward, physical expression and a spiritual grace.
During His last meal before the crucifixion, Jesus gave His disciples an ordinance of remembrance (Matthew 26:26–29). The physical elements He used direct those taking part to the spiritual meaning of forgiveness through the cross. This connection between a visible action and inward faith is also expressed through the ordinances of the Church.
Jesus commanded that those who believe in Him be baptized (Matthew 28:18–19; Mark 16:15–16). The apostles continued to teach this command (Acts 2:38). Baptism is for those who have believed in the Lord; faith must come before a person is baptized (Acts 8:5, 12, 35–38). This ordinance is an outward expression of inward faith.
In baptism, believers are united with Christ and proclaim what He has done for them through His death, burial, and resurrection (Romans 6:3–6). The person being baptized declares that they are dead to sin, buried as Christ was, and raised to life in the power of the Spirit. It is also a declaration that the old, sinful life has died and that the person has a new life in Christ.
Water baptism is carried out by immersion. The Greek word used in the New Testament means to dip or immerse in water. Because baptism symbolizes burial, the practice presented here is complete immersion in water rather than sprinkling. This image corresponds to a person who has died being buried completely beneath the ground.
Because baptism declares personal faith in Christ, this ordinance is not performed for infants. Each person needs to make a conscious decision to follow Christ before being baptized. A child must be old enough to understand that decision and act on the choice they have made.
Alongside water baptism, anointing with oil is mentioned in connection with prayer for the sick. The disciples of Jesus anointed the sick with oil so that they might be healed (Mark 6:12–13). Elders in the Church are also instructed to anoint the sick with oil (James 5:14–15).
This teaching emphasizes that the power of faith brings healing, not the oil itself. Oil symbolizes the work of the Holy Spirit in healing and also signifies consecration and dedication to God.
In the Lord’s Supper, believers proclaim what the Lord has done for them through His death. Taking part is an outward expression of inward faith (1 Corinthians 11:23–30). The wine or grape juice represents the blood of Christ, poured out to cleanse us from sin and bring redemption to our souls.
The bread represents His body, broken to bring us healing (1 Peter 2:24; Isaiah 53:5). Those who partake of the Lord’s Supper should do so in a worthy manner, discerning His body and the meaning of the stripes He bore so that we might be healed.
The Lord’s Supper also unites the Church as the Body of Christ. The bread represents His one body. Although believers come from many nations, cultures, ways of life, languages, and tribes, the Body of Christ remains one (1 Corinthians 11:26).
The frequency of observing the Lord’s Supper may be chosen, provided that those taking part remember and honor Christ each time they do so (1 Corinthians 10:16–17).
The laying on of hands is described as a foundational doctrine of Christ (Hebrews 6:1–2). Five purposes are given for this ordinance: healing, receiving the Holy Spirit, being set apart for a ministry or special assignment, ordination to pastoral ministry, and the impartation of blessing.
Hands are laid on people for healing (Luke 4:40; Mark 16:17–18) and for receiving the Holy Spirit (Acts 8:14–17; 19:1–2, 6). This ordinance is also used to commission someone for ministry and set them apart for a special assignment (Acts 6:2–6).
In ordination to pastoral ministry, the laying on of hands has significance for a person’s life of ministry (1 Timothy 4:14). Gifts of the Holy Spirit may be imparted through the laying on of hands for the work of ministry, according to the will of the Holy Spirit Himself.
The laying on of hands in ordination confirms God’s calling on a person; it does not create a new calling. If that person does not recognize and demonstrate the calling upon their life for ministry, the laying on of hands and ordination are of no benefit.
The laying on of hands is also used to impart blessing (Mark 10:13–16). Although we do not baptize children, we still dedicate them to God and lay hands on them to bless them.