Tất cả bài ghi
Nền Tảng Đức Tin

Những nền tảng của đức tin — Phần 6

Nghi lễ Hội Thánh

5 phút đọc Cập nhật

Nghi lễ là một hình thức thực hành được quy định trong đời sống tôn giáo. Chúa Jêsus ban các nghi lễ cho Hội Thánh để giúp người tin hành động theo đức tin, chứ không chỉ thực hiện những nghi thức hay tuân theo luật lệ. Mỗi nghi lễ gắn liền với một sự minh chứng thuộc thể và một ân điển thuộc linh.

Trong bữa ăn cuối cùng trước khi chịu đóng đinh, Chúa Jêsus đã ban cho các môn đồ một nghi lễ để ghi nhớ (Ma-thi-ơ 26:26–29). Những yếu tố thuộc thể được Ngài sử dụng hướng người dự lễ đến ý nghĩa thuộc linh của sự tha thứ qua thập tự giá. Mối liên hệ giữa hành động hữu hình và đức tin bên trong cũng được thể hiện qua các nghi lễ Hội Thánh.

Chúa Jêsus truyền dạy phải làm lễ báp-têm cho những người tin Ngài (Ma-thi-ơ 28:18–19; Mác 16:15–16). Các sứ đồ tiếp tục truyền dạy điều ấy (Công-vụ 2:38). Báp-têm dành cho người đã tin Chúa; đức tin phải có trước khi một người chịu báp-têm (Công-vụ 8:5, 12, 35–38). Nghi lễ này là sự minh chứng bên ngoài cho đức tin bên trong.

Trong phép báp-têm, tín hữu được liên hiệp với Đấng Christ và công bố những điều Ngài đã làm cho mình qua sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài (Rô-ma 6:3–6). Người chịu báp-têm tuyên bố rằng mình chết đối với tội lỗi, được chôn như Đấng Christ và được sống lại trong quyền năng Thánh Linh. Đó cũng là lời công bố rằng đời sống cũ tội lỗi đã chết, và người ấy có một đời sống mới trong Đấng Christ.

Báp-têm bằng nước được thực hiện bằng cách dầm mình xuống nước. Từ Hy Lạp được sử dụng trong Tân Ước mang nghĩa nhúng xuống hoặc ngâm xuống nước. Vì báp-têm tượng trưng cho sự chôn, cách thực hành được trình bày là trầm mình hoàn toàn trong nước, thay vì tưới nước. Hình ảnh này tương ứng với việc một người chết được chôn hoàn toàn bên dưới đất.

Vì báp-têm công bố đức tin cá nhân nơi Đấng Christ, nghi lễ này không được cử hành cho con trẻ. Mỗi người cần có một quyết định có ý thức để theo Đấng Christ trước khi chịu báp-têm. Một đứa trẻ phải đủ lớn để hiểu quyết định ấy và thực hiện điều mình đã lựa chọn.

Bên cạnh báp-têm bằng nước, sự xức dầu được nhắc đến trong việc cầu nguyện cho người bệnh. Các môn đồ Chúa Jêsus đã xức dầu cho người bệnh để họ được chữa lành (Mác 6:12–13). Các trưởng lão trong Hội Thánh cũng được dạy phải xức dầu cho người bệnh (Gia-cơ 5:14–15).

Lời dạy này nhấn mạnh rằng quyền năng của đức tin mang sự chữa lành, không phải bản thân dầu. Dầu là biểu tượng cho công việc của Đức Thánh Linh trong sự chữa lành, đồng thời biểu thị sự cống hiến và dâng hiến cho Đức Chúa Trời.

Trong Tiệc Thánh, người tin công bố điều Chúa đã làm cho mình qua sự chết của Ngài. Việc dự phần là một cách bày tỏ ra bên ngoài đức tin bên trong (I Cô-rinh-tô 11:23–30). Rượu hoặc nước nho tượng trưng cho huyết Đấng Christ đã đổ ra để làm sạch chúng ta khỏi tội lỗi và đem lại sự cứu chuộc cho linh hồn.

Bánh tượng trưng cho thân thể Ngài đã vỡ ra để đem lại sự chữa lành cho chúng ta (I Phi-e-rơ 2:24; Ê-sai 53:5). Người dự Tiệc Thánh cần dự phần cách xứng đáng, nhận thức rõ thân thể của Ngài và ý nghĩa của những lằn roi Ngài đã chịu để chúng ta được chữa lành.

Tiệc Thánh cũng làm hiệp một Hội Thánh là Thân Thể Đấng Christ. Bánh tượng trưng cho một thân thể của Ngài. Dù những người tin thuộc nhiều dân tộc, nền văn hóa, nếp sống, ngôn ngữ và bộ tộc khác nhau, Thân Thể Đấng Christ vẫn là một (I Cô-rinh-tô 11:26).

Tần suất dự Tiệc Thánh có thể được lựa chọn, miễn là người dự lễ ghi nhớ và tôn kính Đấng Christ mỗi khi dự phần (I Cô-rinh-tô 10:16–17).

Sự đặt tay được gọi là một tín lý nền tảng của Đấng Christ (Hê-bơ-rơ 6:1–2). Năm mục đích được nêu cho nghi lễ này bao gồm chữa lành, nhận lãnh Đức Thánh Linh, biệt riêng cho chức vụ hoặc nhiệm vụ đặc biệt, phong chức mục sư và chuyển giao phước lành.

Sự đặt tay được thực hiện trong việc chữa lành (Lu-ca 4:40; Mác 16:17–18) và trong việc nhận lãnh Đức Thánh Linh (Công-vụ 8:14–17; 19:1–2, 6). Nghi lễ này cũng được dùng để giao một chức vụ, biệt riêng một người cho nhiệm vụ đặc biệt (Công-vụ 6:2–6).

Trong việc phong chức mục sư, sự đặt tay có ý nghĩa đối với đời sống chức vụ (I Ti-mô-thê 4:14). Những ân tứ của Đức Thánh Linh có thể được chuyển giao qua sự đặt tay để thi hành chức vụ, tùy theo ý muốn của chính Đức Thánh Linh.

Việc đặt tay phong chức xác nhận sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên một người, không tạo ra một sự kêu gọi mới. Nếu người ấy không nhận biết và minh chứng sự kêu gọi đối với đời sống chức vụ của mình, thì việc đặt tay và phong chức cũng vô ích.

Sự đặt tay còn được dùng để chuyển giao phước lành (Mác 10:13–16). Dù không làm báp-têm cho trẻ em, chúng ta vẫn dâng các em cho Đức Chúa Trời và đặt tay để chúc phước cho các em.


Thêm bài ghi của Bayless Conley →